Góp đủ vốn điều lệ là nghĩa vụ quan trọng của thành viên công ty TNHH và cổ đông công ty cổ phần. Trong thực tế, có trường hợp doanh nghiệp đã phát sinh lợi nhuận nhưng một số thành viên, cổ đông chưa góp đủ số vốn đã cam kết. Vậy công ty có được chia lợi nhuận khi chưa góp đủ vốn không? Việc chia lợi nhuận trong trường hợp này cần căn cứ vào loại hình doanh nghiệp và các điều kiện pháp luật quy định.

Công ty có được chia lợi nhuận khi chưa góp đủ vốn?

Không thể trả lời chung cho mọi loại hình doanh nghiệp. Việc chưa góp đủ vốn có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của thành viên, cổ đông và điều kiện phân chia lợi nhuận.

Theo Luật Doanh nghiệp, trước khi chia lợi nhuận, doanh nghiệp phải bảo đảm đã hoàn thành các nghĩa vụ tài chính và vẫn thanh toán được đầy đủ các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản đến hạn sau khi chia.

Đồng thời, quyền hưởng lợi nhuận của thành viên, cổ đông còn phụ thuộc vào số vốn thực tế đã góp hoặc số cổ phần đã thanh toán theo quy định.

Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên

Thành viên phải góp vốn đủ và đúng loại tài sản đã cam kết trong thời hạn luật định kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Theo Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2020, thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ phần vốn đã cam kết sẽ có quyền và nghĩa vụ tương ứng với phần vốn đã góp.

Như vậy, nếu một thành viên mới góp một phần vốn thì về nguyên tắc, quyền hưởng lợi nhuận của thành viên đó được xác định tương ứng với phần vốn thực tế đã góp, thay vì mặc nhiên được hưởng theo toàn bộ phần vốn đã cam kết.

Đối với công ty TNHH một thành viên

Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên phải góp đủ vốn điều lệ trong thời hạn luật định.

Theo Điều 75 Luật Doanh nghiệp 2020, nếu không góp đủ vốn trong thời hạn quy định, chủ sở hữu phải đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng giá trị số vốn thực góp trong thời hạn luật định.

Do đó, doanh nghiệp cần xác định lại vốn điều lệ thực tế trước khi xem xét việc phân phối lợi nhuận và các vấn đề tài chính liên quan.

Đối với công ty cổ phần

Cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần có quy định khác trong phạm vi pháp luật cho phép.

Theo Điều 113 Luật Doanh nghiệp 2020, cổ đông chưa thanh toán hoặc chỉ thanh toán một phần số cổ phần đã đăng ký mua sẽ có quyền tương ứng với số cổ phần đã thanh toán.

Vì vậy, doanh nghiệp không nên mặc nhiên xác định quyền hưởng cổ tức dựa trên toàn bộ số cổ phần mà cổ đông đã đăng ký mua nhưng chưa thanh toán.

>>>Quý khách hàng đang băn khoăn về vấn đề chia lợi nhuận? Hãy kết nối ngay với Dịch vụ Pháp chế để được các chuyên gia hỗ trợ trọn gói, cam kết ra giấy phép đúng hạn.

Điều kiện để công ty được chia lợi nhuận

Việc doanh nghiệp có lợi nhuận trên sổ sách chưa đồng nghĩa với việc có thể tự do chia cho thành viên hoặc cổ đông.

Phải hoàn thành nghĩa vụ tài chính

Doanh nghiệp phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế và nghĩa vụ tài chính khác theo quy định trước khi phân phối lợi nhuận.

Do đó, kế toán và người quản lý cần xác định chính xác lợi nhuận được phép phân phối thay vì chỉ căn cứ vào số tiền đang có trong tài khoản doanh nghiệp.

Phải bảo đảm thanh toán được các khoản nợ

Đây là điều kiện quan trọng khi chia lợi nhuận.

Đối với công ty TNHH, Điều 69 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định công ty chỉ được chia lợi nhuận cho thành viên sau khi hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác, đồng thời vẫn bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn sau khi chia lợi nhuận.

Đối với công ty cổ phần, Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2020 cũng đặt ra các điều kiện tương tự đối với việc trả cổ tức.

Phải căn cứ vào quyền thực tế của thành viên, cổ đông

Khi một thành viên hoặc cổ đông chưa góp đủ vốn, doanh nghiệp cần xác định chính xác phần vốn hoặc số cổ phần mà người đó thực tế đã góp.

Không nên chia lợi nhuận theo số vốn cam kết trên giấy tờ nếu pháp luật quy định quyền của người chưa góp đủ vốn chỉ được xác định theo phần vốn thực tế đã góp.

Chưa góp đủ vốn có bị xử lý không?

Có thể. Việc không góp đủ vốn đúng hạn không chỉ ảnh hưởng đến quyền hưởng lợi nhuận mà còn có thể dẫn đến trách nhiệm pháp lý của thành viên, cổ đông.

Đối với thành viên công ty TNHH

Thành viên không góp đủ vốn đúng thời hạn phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp.

Công ty cũng phải thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp theo quy định.

Đối với cổ đông công ty cổ phần

Cổ đông chưa thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua sẽ có quyền tương ứng với số cổ phần đã thanh toán.

Số cổ phần chưa thanh toán được xử lý theo quy định của Điều 113 Luật Doanh nghiệp 2020, đồng thời doanh nghiệp phải thực hiện các thủ tục đăng ký thay đổi vốn điều lệ nếu thuộc trường hợp pháp luật yêu cầu.

Ví dụ về chia lợi nhuận khi chưa góp đủ vốn

Công ty TNHH có 2 thành viên:

  • Thành viên A cam kết góp 600 triệu đồng nhưng mới góp 400 triệu đồng.
  • Thành viên B góp đủ 400 triệu đồng.
  • Công ty phát sinh lợi nhuận đủ điều kiện để phân phối.

Trong trường hợp này, không nên mặc nhiên xác định A có quyền hưởng lợi nhuận dựa trên 600 triệu đồng đã cam kết. Quyền và nghĩa vụ của A phải được xác định dựa trên phần vốn thực tế đã góp và quy định của Luật Doanh nghiệp.

Doanh nghiệp cũng cần kiểm tra tình trạng đăng ký vốn điều lệ để thực hiện thủ tục điều chỉnh nếu thành viên không góp đủ vốn trong thời hạn luật định.

Những lưu ý khi chia lợi nhuận

Doanh nghiệp nên kiểm tra lần lượt:

  • Thành viên, cổ đông đã góp bao nhiêu vốn thực tế?
  • Thời hạn góp vốn đã hết hay chưa?
  • Doanh nghiệp đã hoàn thành nghĩa vụ thuế chưa?
  • Các khoản nợ đến hạn đã được bảo đảm thanh toán chưa?
  • Lợi nhuận được chia có được xác định từ báo cáo tài chính phù hợp không?
  • Cơ quan nào có thẩm quyền quyết định việc phân phối lợi nhuận?
  • Doanh nghiệp có cần điều chỉnh vốn điều lệ do chưa góp đủ vốn không?

Kết luận

Công ty chưa góp đủ vốn vẫn có thể phát sinh lợi nhuận, nhưng không được hiểu rằng mọi thành viên, cổ đông đều đương nhiên được hưởng lợi nhuận theo toàn bộ phần vốn đã cam kết. Quyền hưởng lợi nhuận phải được xác định theo loại hình doanh nghiệp, phần vốn thực tế đã góp và các điều kiện chia lợi nhuận theo Luật Doanh nghiệp.

Nếu thành viên hoặc cổ đông không góp đủ vốn đúng thời hạn, doanh nghiệp cần xử lý tình trạng vốn thực tế và thực hiện thủ tục điều chỉnh cần thiết, đồng thời rà soát kỹ điều kiện trước khi phân phối lợi nhuận.

>>> Liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn chuyên sâu và tối ưu quy trình của bạn!

Cảm ơn bạn đã liên hệ

Luật sư của chúng tôi sẽ liên hệ tới bạn trong thời gian 5 phút.

PHIẾU ĐẶT GÓI DỊCH VỤ

Điền thông tin để được hỗ trợ nhanh nhất